Trang

Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 30 tháng 4, 2011

Ý nghĩa chiến thắng ngày 30 tháng 4

Ngày 30 tháng 4 đi vào lịch sử như một trong những mốc son chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, đánh dấu bước ngoặt của vận mệnh dân tộc thời hiện đại. Nhân dịp kỷ niệm chiến thắng vĩ đại ngày 30 tháng 4, xin được trích dẫn lại toàn văn bài viết tác giả Uông Ngọc Dậu đăng tải trên trang báo Đảng Cộng sản Việt Nam online.
------------------------------------------------
TOẢ SÁNG TINH THẦN CHIẾN THẮNG 30 THÁNG 4



 
 Xe tăng Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975
 (Ảnh tư liệu)
(ĐCSVN)
- Có những sự kiện lịch sử mà càng có độ lùi về thời gian, qui mô và tầm vóc của nó càng lung linh và hoành tráng. Sự kiện chấm dứt 30 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam là một ví dụ. 36 năm đã qua, sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975 càng sáng chói, ngày càng tỏa sáng nhiều ý nghĩa...
Ngày 30 tháng 4 là ngày chiến thắng, ngày cả dân tộc Việt Nam ca khúc khải hoàn. Người Việt Nam, ai từng sống trong những năm tháng chiến tranh, đất nước cắt chia, bom rơi đạn nổ, mong manh sự sống và cái chết, càng thấm thía ý nghĩa của giây phút lá cờ giải phóng tung bay trên dinh Độc Lập, báo hiệu sự cáo chung của chính quyền Sài Gòn và chủ nghĩa thực dân mới xâm lược. Sau 30 năm kháng chiến trường kỳ, hy sinh gian khổ, cái đích mà cả dân tộc phấn đấu hy sinh đã thực sự trở thành hiện thực: Non sông hòa bình, nước nhà thống nhất, nhân dân tự do, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Con đường mà cả dân tộc đã đi qua để có ngày 30 tháng 4, nói một cách hình ảnh, là con đường đầy máu và hoa. Niềm vui vỡ òa, nỗi đau lắng đọng. Vì thế, đối với người Việt Nam, ngày 30 tháng 4 còn mang một ý nghĩa đặc biệt cao cả. Đó là ngày hòa giải và hòa hợp dân tộc. Chiến thắng 30 tháng 4 không của riêng ai. Tất cả người dân Việt Nam đều góp phần làm nên chiến thắng. Nỗi đau cũng không của riêng ai. Tất cả người dân Việt Nam, trực tiếp hay gián tiếp đều chịu nỗi đau, hy sinh mất mát khi nước nhà bị chia cắt, Tổ quốc bị xâm lược. Có người ví cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta như một bản anh hùng ca. Bản anh hùng ca, tất nhiên chứa đựng chất hùng ca và chất bi ca. Người Việt Nam ta đã biết hóa giải bi kịch, xóa bỏ dần mặc cảm và định kiến hẹp hòi để đạt đến sự trọn vẹn, hài hòa, để cả dân tộc hòa hợp dưới mái nhà chung mang tên Dân Tộc Việt Nam. Mỗi năm, đến ngày 30 tháng 4, mỗi người dân Việt Nam lại thấy mình càng phải xích lại gần nhau hơn, lại càng thấy giá trị của sự rộng mở hòa giải hòa hợp để cùng hàn gắn vết thương chiến tranh, khép lại quá khứ, cùng hướng tới tương lai tốt đẹp của cả dân tộc.

Ngày 30 tháng 4 là ngày tri ân, đền ơn đáp nghĩa. Tri ân đồng bào đồng chí thủy chung, son sắt, chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Tri ân nhân dân các nước anh em và bạn bè yêu chuộng hòa bình, tự do công lý khắp năm châu suốt mấy chục năm đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, cổ vũ và giúp đỡ, đồng cảm và sẻ chia. Ơn đền nghĩa trả, đó là truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam ta. Những người chịu nhiều hy sinh mất mát, những người hứng chịu di chứng chiến tranh phải được quan tâm chăm sóc nhiều hơn nữa, bằng nhiều chính sách cụ thể và hiệu quả hơn nữa.

Ngày 30 tháng 4 là ngày vinh danh. Những người có công phải được ghi công và khen thưởng xứng đáng. Vinh danh những anh hùng có tên và những anh hùng vô danh; những người đang sống và những người đã mất; những người có tên tuổi, chức danh và những người vì nhiều lẽ, phải mai danh ẩn tích, nhưng tinh thần yêu nước, sự hy sinh thầm lặng của họ thì vô bờ bến...Ngay trong những ngày kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà này, nhiều cá nhân và đơn vị được Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giai đoạn chống Mỹ cứu nước, là một sự vinh danh đầy ý nghĩa.

Nhân dân vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã làm nên chiến thắng 30 tháng 4. Ngày lịch sử trọng đại này, cả dân tộc càng thấy phải biết phát huy tinh thần chiến thắng, phát huy sức mạnh Việt Nam để có một 30 tháng 4 trong xây dựng đất nước hòa bình, ấm no, hạnh phúc...

Uông Ngọc Dậu

Nguồn dẫn: http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=457395

Ý nghĩa chiến thắng ngày 30 tháng 4

D

Ý nghĩa sự kiện 30 tháng 4 năm 1975

L

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

NHỚ CỐ HƯƠNG

Ai viết vần thơ nỗi nhớ quê
Cho người lữ khách lạc cõi mê
Sương giăng đỉnh núi hồn mong mỏi
Gió lạnh hiên nhà thật tái tê
Phú Thọ người ơi còn núi thắm?
Thanh Sơn còn đó những nương chè?
Lang thang gặp được người quê Tổ
Nhắn lại đôi lời, chớ trách chê!
Dương Hà Hiếu


BÀN THÊM VỀ CHẾ ĐỘ NHÀ LANG TRONG XÃ HỘI MƯỜNG

-----------------------------------------------
BÀN LẠI CHẾ ĐỘ CAI TRỊ TRONG XÃ HỘI MƯỜNG CỔ TRUYỀN:
  “LANG ĐẠO” HAY “NHÀ LANG”
(Qua nghiên cứu điền dã tại Thanh Sơn – Phú Thọ)*

*Dương Hà Hiếu

Tạp chí Khoa học số 02 (2005)
Quan hệ xã hội trong một cộng đồng phản ánh khách quan, rõ nét về văn hoá ứng xử cũng như mối quan hệ của các cá nhân trong cộng đồng xã hội, phản ánh những tục lệ truyền thống dân tộc, vai trò của từng tầng lớp người trong xã hội. Từ đó, chúng ta thấy được trình độ phát triển của cả một cộng đồng tộc người. Do địa thế tự nhiên rừng núi chia cắt, người Mường Thanh Sơn quần tụ bên nhau, hình thành nên vùng mường – bản mường. Mỗi vùng mường, bản mường không liền sát cạnh nhau mà cách xa nhau hàng cây số, đôi khi cả chục cây số. Chính với đặc thù này mà đồng bào có câu nói cửa miệng “khắc đi khắc đến” không việc gì phải vội vã cứ “ngày lui tháng tới”.
Người Mường sống trong quan hệ cộng đồng làng bản, xã hội khá chặt chẽ với những mối quan hệ ràng buộc nhau. Quan hệ trong làng bản của họ thân thiết và gắn bó tương trợ nhau. Người già cả được mọi người kính trọng. Trẻ em được cả cộng đồng quan tâm chăm sóc, yêu quý. Nổi lên trên hết trong cuộc sống giao tiếp truyền thống của tộc người này là quan hệ DÂN MƯỜNG và NHÀ LANG (CON MOIL –  NHA LANG, theo tiếng Mường). 
Tuy vậy cho đến ngày nay, khi nhắc đến tầng lớp NHÀ LANG cũng như nói đến sự cai trị của nhà lang chúng ta còn có những quan niệm và cách gọi nhầm lẫn về tầng lớp này. Chúng tôi cho rằng ngay tên thuật ngữ dùng để chỉ tầng lớp này cần phải có sự thống nhất và chính xác. Trước đây, khi nghiên cứu về xã hội mường cổ truyền, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi tầng lớp NHÀ LANG với những thuật ngữ khác nhau, có thể kể ra như sau:
1.1. Theo Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu thì “Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội Mường được đặc trưng bằng chế độ lang đạo (TG nhấn mạnh). Đó là những chúa đất nắm quyền cai quản dân trong vùng, bọn lang đạo theo các dòng họ có thế lực và được thế tập, chúng thay nhau cai quản các mường và làng xóm…”1.
1.2. Theo nhà nghiên cứu Pháp Ta – rô trong cuốn “Những tỉnh Bắc Kỳ – Hưng Hoá. Dân tộc học” cho rằng: “Về tổ chức làng xóm, người Mường sống dưới chế độ dường như là Tiền Phong Kiến, mỗi làng có một Thổ tù, mỗi xóm có một Thổ lang. Những người này có thể coi như những chúa đất địa phương. Họ còn được gọi là quan lang. Quyền hành của họ cha truyền con nối…”2.
1.3. Tác giả Jeanne Cuisinier trong toàn bộ tác phẩm nổi tiếng “Người Mường địa lý nhân văn và xã hội” – một công trình đồ sộ về người Mường - đã dùng thuật ngữ “thổ lang” để chỉ tầng lớp thống trị trong xã hội Mường cổ truyền. Bà chỉ rõ: “ Đối với thổ lang, quyền trưởng bảo đảm cho người con trai cả chức thổ lang và quyền sở hữu ngôi nhà của người cha. Do chức thổ lang, người ta công nhận cho anh quyền cai trị lãnh địa, nhưng tư cách trưởng nam của anh không bảo đảm cho anh sự toàn vẹn lãnh địa; người ta cắt các thái ấp chia cho các em trai của anh, những người, cũng như anh, đều là con trai của người vợ chính. Các em anh ta trở thành các thổ lang (hay thổ tạo trong vùng Mãn Đức)”3.
1.4. Giáo sư Phan Hữu Dật thì lại không chỉ hẳn ra tên gọi cho chế độ cai trị trong xã hội Mường cổ truyền mà mới chỉ dừng lại ở: “Với xã hội Mường, đó là thiết chế làng – chiềng với các chức lang đạo, lang cun – nhưng có thể nói đặc điểm thiết chế xã hội Mường cổ truyền là vai trò của dòng họ với chế độ thế tập cha truyền con nối, trong việc cai quản xã hội.”4. Cùng hướng quan điểm này, Giáo sư Trương Hữu Quýnh và Nguyễn Cảnh Minh trong “Lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến 1858” cũng chỉ nêu lên: “Người Mường trở thành một tộc người sống ở miền thượng du. Họ vẫn tiếp tục giữ những nét văn hoá nguyên thuỷ, sống theo bản mường dưới sự cai quản của các lang cun, lang đạo5. Giáo sư Trần Quốc Vượng thì đưa ra: “Vùng Mường trước Cách Mạng, có lang, có nàng. Lang có lang đạo, lang cun (cun - kun). Đạo (con trưởng ngành thứ nhà lang) cai quản một xóm, cun (con trưởng ngành trưởng nhà lang) cai quản một mường”1.
1.5. Có lẽ xác đáng nhất, hợp lý nhất phải kể đến quan điểm của nhà Dân tộc học nổi tiếng và là bậc thầy trong nghiên cứu về người Mường, đó là Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi) khi ông đưa ra nhận định: “xứ Mường trước Cách mạng tháng Tám 1945, ít nhất cũng trong phạm vi tỉnh Hoà Bình, vẫn trình ra khắp mọi nơi một cơ cấu xã hội – chính trị đồng nhất. Cơ cấu đó không được chỉ định bằng từ Mường nào cả. Nhưng để tiện trình bày, tôi cứ tạm vay một từ kép có sẵn trong ngôn ngữ của tộc người, để gọi cơ cấu nói trên là chế độ NHA LANG (nhà lang)”2.
Từ những nhận định, quan điểm trên về tên gọi của tầng lớp này, chúng tôi thấy cần thiết phải có một thuật ngữ chính xác dùng để chỉ tầng lớp cai trị này trong xã hội Mường truyền thống cũng như bản chất của nó. Bài nghiên cứu này dựa trên các tư liệu nghiên cứu điền dã tại vùng mường Thanh Sơn (Phú Thọ) chỉ nhằm mục đích như vậy.


1. Vị trí NHÀ LANG trong xã hội Mường.
Điều đầu tiên có thể khẳng định, NHÀ LANG là tầng lớp quý tộc cai trị cả vùng mường đến từng bản, làng một khá chặt chẽ. Tầng lớp dân Mường là lực lượng đông đảo nhất. Bên cạnh đó, một bộ phận rất nhỏ bé những người phục dịch cho cuộc sống của NHÀ LANG. Trước đây, các nhà nghiên cứu gọi tầng lớp này là “Lang đạo”. Tuy vậy, thuật ngữ này trở nên xa lạ đối với người Mường nói chung và người Mường Thanh Sơn nói riêng. Họ không gọi tầng lớp thống trị mình là “Lang đạo” mà gọi là NHÀ LANG. Và, bản thân những người thuộc tầng lớp này cũng tự xưng mình thuộc NHÀ LANG. Còn “Lang đạo” chính là người Mường dùng để gọi Lang Tạo. Ông này thuộc NHÀ LANG nhưng quyền lực và địa bàn cai trị kém hơn Lang Cun rất nhiều.
NHÀ LANG có vị trí đặc biệt quan trọng trong cộng đồng xã hội của người Mường nói chung và người Mường Thanh Sơn nói riêng. Người Mường có câu:
“Mường có LANG, làng có TẠO ”.
“Tạo” tức là “đạo” theo cách gọi của người Việt sau này. Và cũng có thể trong quá trình tiếp xúc tìm hiểu, nghiên cứu mà người ta đã ghép LANG với TẠO thành LANG ĐẠO và được dùng để chỉ cho toàn bộ chế độ NHÀ LANG.
Chúng ta có thể hiểu một cách rõ ràng rằng: NHÀ LANG là cách người Mường dùng để gọi tất cả những người trong họ làm Lang cai trị mình, mà, đứng đầu NHÀ LANG là Lang Cun. Mỗi một vùng mường đặt dưới sự cai quản của một họ Lang. Đối với người Mường, những họ làm Lang chủ yếu là họ Đinh, họ Hà, họ Quách, họ Hoàng, họ Bạch… Đây là tầng lớp quý tộc nắm quyền cai trị cha truyền con nối. Trong NHÀ LANG có nhiều hạng với địa vị khác nhau.
Lang Cun (có nơi gọi là Lang Ngài) là tên gọi người đứng đầu cả vùng mường mà mình cai trị với nhiều bản mường. Lang Cun sống ở trung tâm của vùng mường của mình gọi là Chiêng (Chiềng). Ông này chia các con thứ hoặc nam giới họ hàng thuộc chi thứ đi cai trị các bản trong vùng mường. Riêng mường trung tâm có bản Chiềng sẽ được chuyển cho con trai trưởng của Lang Cun khi ông này chết. Và đương nhiên, người con trai trưởng của ông sau này cũng được dân Mường gọi là Lang Cun. Tất cả những người đàn ông trong NHÀ LANG được Lang Cun chia cho cai trị các bản mường trong quyền cai quản đều phải có nghĩa vụ nộp lễ vật hàng năm cho Lang Cun và theo quy định của ông này. Như vậy, Lang Cun không phải là tên riêng mà là danh từ chung dùng để chỉ người đứng đầu họ Lang cai trị cả vùng mường. 
Vùng mường, bản mường nào cũng bắt buộc phải có tầng lớp này để làm chỗ dựa cho toàn bộ đời sống kinh tế vật chất và đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. NHÀ LANG đứng đầu cả một vùng mường rộng lớn, chủ trì các hoạt động lễ nghi, tết lễ hội hè cho đến phát động mọi người tham gia cấy hái mùa vụ nên được mọi người kính nể. Nếu bản mường nào mà dòng họ NHÀ LANG tuyệt tự, tức là không có con nối dõi hoặc vì một biến cố nào đó mà không còn Lang thì dân bản đó phải làm lễ đi đến các vùng mường khác xin NHÀ LANG ở đó cử con trai của họ đến làm Lang cho vùng mường của mình.
NHÀ LANG thường xác lập quyền cai trị của mình với tư cách là người có công tìm ra đất đai, gây dựng bản mường, bỏ giống, trâu bò cho toàn dân Mường khai hoang sản xuất. Các dòng họ làm Lang ở vùng mường Thanh Sơn chủ yếu là các họ Đinh (ở Giáp Lai, Tất Thắng, Võ Miếu, Cự Đồng, Thạch Khoán….), họ Hà (Lai Đồng, Đồng Sơn, Thạch Kiệt…). Bên cạnh còn một số họ làm Lang khác. Trong các họ này, họ Đinh mạnh và đông nhất, được người Mường Thanh Sơn coi là họ làm Lang. Ví dụ như ở Tất Thắng, dòng Lang họ Đinh cai trị cả vùng mường gồm các mường nhỏ như mường Xem, mường Tế, mường Khang, mường Bãi…và mường Chiềng là mường sầm uất, trù phú nhất. Còn ở Lai Đồng, có mường Vường, mường Phắt, mường Đồng, mường Lòn, mường Kết… với trung tâm là mường Chiềng, nơi nhà Lang ở. Bên cạnh Chiềng là nơi Lang Ngài sống còn có các mường nhỏ trong vùng, nhà Lang chia các mường nhỏ đó cho con trai thứ hoặc anh em mình cai trị. Dân Mường gọi những Lang này là Lang Tạo1 hoặc Quan Lang2. Những làng bản ít dân chưa đủ để lập Lang thì người mà nhà Lang cử đến được gọi là Quan. Tuy vậy, tầng lớp nhà lang chiếm số lượng rất ít ỏi.
Bên cạnh NHÀ LANG còn có một bộ phận nhỏ những người hoạt động cúng tế, xem bói và tiến hành các hình thức chữa bệnh mà dân Mường gọi là ông Mo. Có thể nói, ông mo đóng một vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người Mường Thanh Sơn. Ông này tham gia vào các nghi lễ quan trọng của đồng bào. tầng lớp đông đảo, chiếm đa số trong xã hội mường cổ truyền là người dân lao động Mường.
Như vậy về danh nghĩa, Lang Cun (tức Lang Ngài) cai trị cả vùng mường rộng lớn với nhiều bản làng mường nhỏ nhưng trên tực tế ông ta chỉ cai trị một mường to nhất, đông dân cư nhất mà người Mường gọi là Chiềng. Những mường nhỏ Lang Cun chia cho người thân trong gia đình cai trị. Những Lang nhỏ này phải có nghĩa vụ nộp vật phẩm cho Lang Ngài hàng năm theo quy định riêng của Lang Cun ở mỗi vùng khác nhau.
Sơ đồ địa vị trong NHÀ LANG trong một vùng mường.





2.Quyền lợi và nghĩa vụ của NHÀ LANG đối với dân Mường.
NHÀ LANG có quyền lợi rất lớn về kinh tế, độc quyền phân chia ruộng đất trong vùng. Ruộng NHÀ LANG là những phần đất tốt, gần sông suối và thuận lợi cho lao động. Loại ruộng này đồng bào quen gọi là Na Lang (ruộng của nhà Lang) với diện tích lớn hơn nhiều so với ruộng của dân Mường và liền bờ. Tuy nhiên, ruộng của NHÀ LANG so với ruộng công của bản Chiềng chỉ chiếm một phần tương đối, không quá lớn để choáng hết ruộng dân. Ngoài ra, NHÀ LANG còn có quyền được hưởng một phần ruộng công để dành cho chi phí tiếp khách và một mảnh ruộng khác phục vụ cho việc cúng tế lễ tết, hội hè. Vào ngày mùa, dân bản phải làm hai phần ruộng này cho NHÀ LANG mà đại diện cho tầng lớp này là Lang Cun.
Ngoài quyền lợi về ruộng đất là quyền lợi cao nhất mà NHÀ LANG được hưởng thì NHÀ LANG còn có quyền nhận sự phục dịch, cúng tế của dân bản trong những dịp lễ hội trọng đại trong năm cũng như công việc gia đình như cưới xin cho con cái, ma chay và cày cấy (phần này được đề câph rõ hơn ở phần các lễ nghi trong lao động sản xuất và lễ tết hội hè). Đối với tài sản chung của cả vùng mường như ao hồ, suối, ngòi, đầm hồ hoặc rừng rú thì NHÀ LANG cũng được hưởng một khoảnh nhỏ để sử dụng riêng và người dân không được phép xâm phạm.
Nhờ có những đặc quyền kinh tế đó mà NHÀ LANG có cuộc sống khá giả hơn so với nhân dân trong vùng. Đặc biệt đối với người Mường Thanh Sơn thì trống đồng là vật mà chỉ NHÀ LANG mới có quyền sở hữu và dùng vào những việc trọng đại của bản mường. Người dân dù khá giả đến đâu cũng không ai được có quyền này. NHÀ LANG phải cất giữ  trống đồng cẩn thận vì nó được coi là bảo vật linh thiêng của mỗi dòng Lang.
Sự khác biệt về kinh tế đưa đến sự phân biệt giữa NHÀ LANG với dân thường trong quan hệ xã hội. Mọi người từ già đến trẻ trong gia đình, dòng họ NHÀ LANG được mọi người dân kính nể, mến trọng. Một cụ già phải gọi một đứa trẻ là Nàng hoặc là Chàng nếu chúng là con cái của NHÀ LANG.
Trong hôn nhân, con dân Mường không có quyền lấy con cái của NHÀ LANG. Sự phân biệt này có khác biệt đối với con trai và con gái. Con gái Lang không được lấy con trai của người dân mà chỉ được tìm hiểu và lấy con trai dòng Lang ở vùng mường khác, tức là cùng tầng lớp. Con trai Lang có thể yêu và cưới con gái dân mường nhưng con gái dân dù có cưới trước thì cũng chỉ là vợ lẽ hoặc nàng hai. Vai trò, địa vị dâu cả phải nhường cho con gái thuộc dòng Lang mà chàng trai sẽ tìm hiểu và lấy sau này.
Ngày lễ tết, ngoài quà biếu của dân bản, NHÀ LANG còn được ngồi mâm trên. Tuy nhiên trong vui chơi sinh hoạt hàng ngày, con Lang không có khác biệt gì đáng kể so với người dân. Họ chỉ có thể kết bạn với nhau mà thôi. Phải chăng chính vì những cấm đoán này mà trong cuộc sống của mình, người Mường có rất nhiều những áng mo (truyện thơ) nổi tiếng phản ánh sự khát khao được yêu thương giữa chàng trai con Lang và cô gái con dân và ngược lại như “Nàng Nghi Nga và chàng Hai Mối”, “Nàng con Thờm và chàng Bồng Hương”, “Vần Va”…
Mặc dù có nhiều quyền lợi và được dân Mường quý nể nhưng NHÀ LANG cũng phải có nghĩa vụ đối với nhân dân trong vùng mình cai trị như chủ trì mọi lễ nghi quan trọng của lao động sản xuất, lễ tết như nghi lễ đóng – mở cửa rừng, lễ rước vía lúa, lễ khai canh xuống đồng đầu năm, lễ treo hái… NHÀ LANG phải quyết định những việc trọng đại và bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Bên cạnh đó, NHÀ LANG còn phải cùng người già trong làng, bản đứng ra giải quyết những mâu thuẫn, xung đột láng giềng, họ mạc trong dân.
3. Quyền lợi và nghĩa vụ của dân Mường đối với NHÀ LANG.
Mặc dù chịu sự cai quản của NHÀ LANG nhưng người dân Mường cũng có sự tự do mang tính chất dân chủ khá rộng rãi. Dân bản có quyền ăn vạ NHÀ LANG nếu như NHÀ LANG để cho con gái không chồng mà chửa hoang. Lang phải nộp vạ cho dân nếu như con cái nhà Lang hư gây lộn với dân. Điều này đòi hỏi NHÀ LANG phải giáo dục, quản lý con cái thật nghiêm ngặt để không phạm vào tục lệ của bản làng. Do đó, trong xã hội mường truyền thống, ít khi người ta thấy có những hiện tượng con cái Lang đánh nhau, ỷ thế gia đình bức hiếp quá đáng dân mường. Khi công to việc lớn cần có sự giúp đỡ của người dân Mường, NHÀ LANG phải làm cơm khoản đãi thật chu đáo.
Vào những năm đói kém do hạn hán mất mùa, NHÀ LANG phải có nghĩa vụ giúp đỡ nhân dân. Những Lang ăn ở không biết kiêng nể tục lệ, không kính trọng người già, làm điều bất kính hay keo kiệt chỉ biết nhận sự giúp đỡ và cúng biếu của nhân dân sẽ bị dân Mường chê bai. Đôi khi chỉ vì sự đối xử tệ bạc với nhân dân mà NHÀ LANG bị dân Mường tổ chức phế truất quyền làm Lang. Song thông qua nghiên cứu điền dã, chúng tôi thấy những trường hợp như vậy rất hiếm xảy ra trong xã hội của người Mường Thanh Sơn.
Có thể nói, quan hệ NHÀ LANG và dân Mường trong xã hội Mường cổ truyền mang đậm  chất dân chủ. Bản thân tầng lớp thống trị NHÀ LANG có những quyền lợi cũng như nghĩa vụ nhất định đối với người dân trong vùng mình cai quản. So với bản chất của giai cấp địa chủ phong kiến của người Việt (Kinh) thì NHÀ LANG có nhiều yếu tố tiến bộ hơn bởi nó đại diện cho quyền lợi không chỉ cho tầng lớp mình mà còn đại diện quyền lợi cho dân Mường. Tầng lớp NHÀ LANG không những phải giúp đỡ dân Mường trong những trường hợp đặc biệt như hạn hán, mất mùa đói kém và những việc trọng đại khác mà còn chịu trách nhiệm đứng ra tổ chức những lễ nghi trọng đại của dân tộc. NHÀ LANG cũng phải chịu những lệ phạt vạ của dân Mường nếu không làm tròn nhiệm vụ. Chế độ NHÀ LANG là một trong những nét độc đáo của hệ thống những tục lệ lễ nghi, phong tục tập quán giàu có của dân tộc này. Cho nên, chúng tôi đề nghị cần thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ “NHÀ LANG” trong nghiên cứu về đời sống văn hoá truyền thống của người Mường, đặc biệt là trong nghiên cứu về đời sống xã hội Mường cổ truyền.

Abstract:
The relationship between NHA LANG and Muong people in the age – old society is strongly democratic. NHA LANG ruling classes themselves have limited rights but also obligations to people in the place they control. In comparison with essence of the Viet (Kinh) feudal landlord class, NHA LANG has more progressive factors because it represents the rights of not only its classes but also Muong people. NHA LANG has to help Muong people in special situations such as drought, crop faiture, famine and other important work as well. In addition, they are responsible for holding significant ceremonies of this race. NHA LANG is also suffered fine rules of Muong people if they don’t do their work well. The NHA LANG regime is one of original features of rich practice, rituals and customs of this race.



1 Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu: Văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Nxb GD, 1998, Tr40
2 Trích theo Nguyễn Dương Bình: Một vài nét về tình hình xã hội vùng mường Vĩnh Phú trước cách mạng tháng Tám. Tạp chí Dận tộc học số 4, 1974, Tr35.
3 Sách đã dẫn. Nxb Lao Động, 1995, Tr383.
4 Phan Hữu Dật: Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam. Nxb ĐHQG HN, 1999, Tr225.
5 Sách đã dẫn. Nxb ĐHQG HN, 1999, Tr257.
1 Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Nxb VHDT – Tạp chí VHNT. HN, 2000, Tr629.
2 Trần Từ: Người Mường ở Hoà Bình. Hội KHLSVN. HN, 1996, Tr3 – 4.
1 Lang Tạo (sau được dịch ra tiếng Việt là Lang Đạo):Đây là tên gọi chức của người đứng đầu một vùng, bản mường nhỏ nằm trong vùng mường của nhà Lang do Lang Cun quản lý. Lang Tạo phải là người trong dòng họ nhà Lang, có thể là con cái của Lang Cun hoặc anh em  họ hàng Lang Cun.
2 Quan Lang:  là tên gọi người đứng đầu một mường nhỏ hơn các bản mường khác. Theo người Mường Thanh Sơn thì Quan Lang cai trị những bản  mường dân cư thưa thớt chưa đủ giàu có để lập Lang.

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2011

LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG Ở THẠCH KHOÁN


Dương Hà Hiếu
Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 31.2001


Đình là nơi hàng năm đồng bào tiến hành lễ hội vui xuân với những tiết mục vui chơi độc đáo, khơi nguồn và làm sống lại những truyền thống địa phương quý báu. So với những ngôi đình còn tồn tại đến ngày nay ở huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ thì đình Thạch Khoán là ngôi đình to đẹp nhất, giữ được kiến trúc tương đối nguyên vẹn cổ kính. Người Mường ở Thanh Sơn coi đình Thạch Khoán là đình Cả bởi lễ hội mang tính chất liên vùng của nó. Ngôi đình này ngay trung tâm xã Thạch Khoán, cách trung tâm huyện Thanh Sơn 8 km về phía Đông và được dựng trên một quả đồi nhỏ cạnh cánh đồng rộng trước mắt và hướng về núi Tản Ba Vì. Theo lời các cụ già và một số tư liệu như sắc phong, văn tế, cổ sử thì đình Thạch Khoán đã có từ lâu lắm. Đầu tiên, dân dựng đình bằng tre nứa  lá để thờ vọng Thánh Tản Viên Sơn cùng các Mị nương (Ngọc Hoa công chúa, Tiên Dung công chúa, Thuỷ Tiên công chúa) con Vua Hùng thứ 18. Chính vì từ gốc tích này mà nhân dân lập đình thờ tôn ở ngôi  tối cao trên các thần linh.
Đình còn thờ vị Đại tướng quân Đinh Công Mộc với công trạng bảo vệ nhân dân khi giặc Minh đến xâm lược cướp phá. Theo dân gian Thạch Khoán truyền tụng thì khi giặc Minh đô hộ nước ta (1418 - 1427), thổ Lang vùng mường Thạch Khoán là Đinh Công Mộc đã lãnh đạo dân Mường đứng lên hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi chỉ huy cùng nhân dân trong vùng và các vùng lân cận chống giặc. Sau khi giặc Minh khỏi bờ cõi và đất nước độc lập, Đinh Công Mộc được vua Lê Thái Tổ trao chức Đại tướng quân Vũ quận công, quản lãnh binh dân bản xứ. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi rõ: “Đinh Công Mộc: người huyện Thanh Thuỷ (nay thuộc huyện Thanh Sơn) có công giúp vua Lê Thái Tổ, được trao chức Đại tướng quân Vũ quận công, quản lãnh binh dân bản xứ, lúc chết người sở tại lập đền thờ”. Khi Đinh Công Mộc mất, dân bản xét công trạng của ông với dân với nước đã nhất trí đưa ông vào đình, tôn là thổ thần cùng cúng tế  hương khói với Tản Viên Sơn Thánh và tam vị Mị nương.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), Nguyễn Bá Xuyên là người địa phương đã kết nghĩa với nghĩa quân Đề Kiều, Đề Ngữ và Đốc Dị hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (1885). Sau đó do nghi nghờ Nguyễn Bá Xuyên theo giặc vì ông được bổ nhiệm làm quan tri huyện Thanh Sơn, Đề Kiều và Đề Ngữ nổi giận đã dẫn quân đến đốt phá đình, hỏi tội Nguyễn Bá Xuyên. Ngày hôm đó là 25 tháng 1 âm lịch (không rõ năm), sau trở thành ngày giỗ trận chung đồng thời là ngày tổ chức lễ hội xuân của cả vùng.
Với nhiều biến cố của lịch sử, đình Thạch Khoán đã bị đốt phá nhiều lần. Cùng với sự giúp đỡ của các “nước nghĩa” (tức các vùng mường lân cận có quan hệ kết nghĩa với nhau), nhân dân Thạch Khoán đã lập lại đền ở khu đất cũ đồi  "Cháu" (tức đồi sặt). Sau lần trùng tu đó đình tồn tại cho đến ngày nay, gồm năm gian dựng theo hướng Tây Nam. Gian giữa nhìn chính diện về phía núi Ba Vì (núi Tản) gọi là cung chính, đặt bài vị thờ Thần Tản Viên Sơn. Tả cung đặt bài vị thờ các Mị Nương, con Vua Hùng thứ 18. Hữu cung thờ vị thổ lang Đại tướng quân  Đinh Công Mộc. Đình không có vách ngăn hay tường bao, tất cả tạo vẻ cao mà rộng, gần gũi mái mà thành kính.
Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (tức năm 1925), Vua Khải Định ra sắc phong cho dân Mường vùng Thạch Khoán “…hàng năm theo lệnh này cúng lễ, coi đó là như quốc khánh của làng” . Từ đó, hàng năm vào đúng độ xuân về (25 tháng 1 âm lịch) lễ hội đình Thạch Khoán tổ chức. Tuy nhiên, để tổ chức lễ hội tươm tất thì dân làng phải chuẩn bị mọi thứ  trước đó hàng tuần.
Đầu tiên là việc chọn người rước kiệu. Việc tuyển chọn trai tráng rước kiệu khắt khe và rườm rà nhất. Chỉ những thanh niên nào khỏe mạnh, khôi ngô, chưa vợ và còn trong trắng, có uy tín, được trẻ yêu già mến. Đặc biệt, những chàng trai đó nhất thiết phải sinh trong gia đình có đầy đủ cha mẹ, anh chị em và gia đình đó phải thuận hoà. Theo lời các cụ già thì những chàng trai đó cuối cùng phải đạt tiêu chuẩn là "phong quang, đầy đủ". Người ta chọn 30 chàng trai vào đội rước kiệu, trong đó có 8 chàng trai "phong quang đầy đủ" nhất được chọn ra để khiêng kiệu.
Chiều ngày 24, ông chủ tế lo việc cúng tế ở đình làm lễ "cạo tệ" thông báo cho nhân dân trong vùng làng mở lễ hội đình. Khoảng 2 giờ chiều, đoàn rước kiệu xuất phát từ đình đi đến xóm Chiềng và nhận sắc phong từ tay thổ lang (nay là người đứng đầu dòng họ Đinh). Tờ sắc phong bằng giấy màu vàng chanh in hình rồng vờn mây dài khoảng 1,2m, rộng khoảng 69 cách mạng được cuộn tròn cất giữ cẩn thận trong một ống tre bịt kín, và để trong một chiếc hòm gỗ hình chữ nhật sơn son. Chiếc hòm đựng sắc phong được đặt ngay ngắn trên kiệu. Đoàn rước kiệu theo đường Đồng Bái về đình, vừa đi họ vừa đánh chiêng trống vang lừng. Đến cổng đình, tất cả chiêng trống gõ lên dồn rập báo hiệu đoàn rước đã về. Lúc này ông chủ tế ra kiệu làm lễ đưa hòm sắc phong vào nhập cung giữa tế thần linh. Đây cũng là lúc người dân được nghe đầy đủ tích lập đình, các vị thần được thờ trong đình cũng như nguồn gốc của ngày lễ hội.
Nửa đêm, các chàng trai rước kiệu đi lấy “nước tiên” ở một cái giếng gần gốc cây đa cách ngôi đình không xa gọi là giếng Doộc Cùm về để dùng làm lễ tế ngày hôm sau. Đồng bào quan niệm đi lấy nước phải vào đúng nửa đêm và phải nước giếng Doộc Cùm mới thật trong sạch và thiêng. Dân làng truyền rằng, giếng này trước có chú khách dấu của, về đêm thường hiện lên hai con hạc trắng nhảy múa đùa rỡn trên giếng.
Sáng hôm sau, tức ngày 25 tháng giêng, thổ Lang đứng đầu bản mường chính thức dự tế lễ. Những người tham gia vào cúng tế sáng hôm ấy nhất thiết phải nhúng tay vào nước tiên để tẩy người cho trong sạch. Ông chủ tế đọc văn tế lần thứ hai. Phụ giúp cho ông chủ tế gồm mười hai quan viên, là người già cả trong vùng. Tả hữu chính cung có hai ông quan viên xướng lễ. Mười ông còn lại phục dịch dâng lễ của các “nước nghĩa”, bà con dân bản trong vùng và các địa phương lân cận đến cúng viếng cầu may xin lộc. Trong lúc tiến hành, nhạc bát âm, xinh tiền vang lên phụ hoạ theo. Tất cả mọi sự lễ nghi đơn giản, không cầu kì cũng không nhất thiết phải linh đình. Gặp năm đói kém, dân bản chỉ tổ chức một lễ nhỏ gọi là “hàn hâm” cúng tế các vị thần linh và chỉ làm một lần, rất gọn nhẹ. Năm được mùa, dân bản mới làm “chính tiệc”, tức là làm đầy đủ công đoạn, có mổ lợn, mổ trâu với các nghi lễ trang trọng. Đồng thời, các nước nghĩa cử người mang đồ lễ đến dâng cúng.
Trong nghi lễ, thổ lang tiến hành nghi lễ tế thần và tổ tông với sự giúp đỡ của các cụ già có uy tín, đầy đủ các điều kiện "phong quang đầy đủ". Nhà thổ lang ngoài dự lễ còn được phần mang về và được dân bản biếu một lễ để cúng tổ tiên ở nhà. Tuy nhiên, nếu trong nhà thổ lang có con gái chửa hoang, hay có gì sai phạm thì dân bản sẽ không cúng phần lễ này và bị dư luận dân bản chê trách. Điều này đòi hỏi gia đình thổ lang thực sự nghiêm khắc trong việc dạy bảo con cái.
Phần nghi lễ trong đình được tiến hành đến chiều hai lăm thì kết thúc nhưng cũng có năm đến tận chiều hai sáu. Sau đó, đoàn rước kiệu mới rước sắc phong từ đình về xóm Chiềng nơi di duệ con nhà Lang Đinh Công Mộc ở kết thúc lễ hội.
Cùng các nghi lễ  ở đình, phần hội hè của nhân dân cũng bắt đầu ngay từ đêm hai bốn với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Dân từ các "nước nghĩa" kéo về chung vui. Đây là dịp để trai gái thi thố tài năng của mình. Trong cuộc vui này, các chàng trai cô gái có điều kiện tỏ tình, tìm hiểu nha quan các bài hát giang – ví đối đáp. Các đám hát đối đáp luôn được sự hưởng ứng của nhiều người kể cả các cụ già và kéo dài thời gian nhất. Thường thì các cô gái Mường sẽ là người cất giọng thăm dò trước:
“Đêm qua em ngồi nhà ngoài
Em têm trăm mốt, trăm hai miếng trầu

Chờ chàng chẳng thấy chàng đâu

Bỏ cau long hạt bỏ trầu long vôi

Trầu long vôi ắt hẳn trầu nhạt
Cau long họt ắt hẳn cau già
Mình chẳng lấy ta ắt hẳn mình thiệt
Ta chẳng lấy mình ta biết lấy ai…”
Sau đó, các chàng trai bắt đầu đối đáp theo. Cứ như vậy, những bài hát giang – ví được tận dụng để thăm dò tình cảm của cả hai bên cho hết ngày qua đêm.
  Cũng trong ngày hội các cụ già có dịp kể cho con cháu về nguồn gốc dân tộc, về sự tích con sông Mĩ Há (sông Bứa ngày nay)…bằng những bài hát giang chậm rãi. Cụ Hà Văn Danhm – một nghệ nhân giang – ví của vùng mường Thanh Sơn - 83 tuổi sống ở xóm Chiềng xã Lai Đồng cho biết bố ông hồi trẻ vẫn thường đi hát ở Thạch Khoán vào các dịp lễ hội như thế.
Các trò chơi như ném còn, đu tiên,…được tổ chức và thu hút đông đảo mọi người từ em nhỏ đến các cụ già tham gia. Náo nhiệt nhất và vui nhất phải kể đến cuộc thi bắn nỏ. Trai gái đều có thể tham gia. Ai thắng sẽ được mọi người khen thưởng, tặng quà và là niềm kiêu hãnh của cả bản. Đây cũng là một đặc trưng về bản tính của người Mường nói chung và người Mường Thanh Sơn nói riêng.
Những ngày lễ hội này, phường chèo ở miền xuôi cũng lên góp vui, khách thấp phương đến được đón tiếp rất thân tình. Tuy nhiên ở Thạch Khoán không có trò đam đuống, chàm thau và một số trò khác như Tất Thắng, Xuân Đài, Kim Thượng, Lai Đồng… còn giữ lại cho đến ngày nay.
Hiện nay, khi đồng bào Mường ở Thạch Khoán đang hoà nhập một cách tích cực vào sự phát triển chung, lễ hội đình có phần cải biến ít nhiều đi cho phù hợp cuộc sống cộng đồng hiện tại. Trong khi những giá trị văn hoá khác dần mai một như tiếng nói, trang phục,…thì ngược lại, đình Thạch Khoán cũng như các ngôi đình khác là nơi bảo vệ và lưu giữ những tục lệ, trò chơi truyền thống tốt đẹp. Đình Thạch Khoán với tầm quan trọng của nó chẳng những có vai trò quan trọng trong cuộc sống dân nhân còn tồn tại như là một nhân chứng lịch sử, xứng đáng là một di tích lịch sử văn hoá, một biểu hiện đặc sắc của văn hoá truyền thống dân tộc Mường.
*Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 31.2001, trang 10 – 11
SỨC XUÂN Ở VÙNG MƯỜNG TẤT THẮNG*
DƯƠNG HÀ HIẾU
Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 29 (2001)






Đình Cả thuộc xã Tất Thắng nằm trên trục đường 24 từ phố Vàng đi Hoà Bình, cách trung tâm huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) hơn 10km về phía đông nam. Do sự biến thiên của tự nhiên và xã hội, toàn bộ kiến trúc đình đã bị phá huỷ. Năm 1991, đáp ứng nguyện vọng tâm linh thiết tha của đồng bào, dựa trên dấu tích còn lại, địa phương đã xây dựng lại ngôi đình tại địa điểm cũ, trên thế đất cao giữa xóm Chiềng. Đình thờ Đức Thánh Tản Viên Sơn, các vị Thánh Mẫu sinh ra dân Mường và các vị tiên công lập xóm Chiềng bản Mường.
Từ khi lập lại, đình đã trở thành trung tâm hội họp vui chơi của bà con. Đặc biệt, lễ hội đình diễn ra đúng dịp xuân về, làm phong phú đời sống tinh thần dân bản, thu hút đồng bào các xã lân cận cùng về chung vui cầu may năm mới.
Lễ hội đình Cả gắn với truyền thuyết rằng, khi xưa, đất Tất Thắng còn là một vùng hoang sơ, có ông bà nọ sinh sống ở đây và sinh được 4 cô con gái. Do mỗi cô mang trang phục một màu nên được gọi là: Bạch Hoa, Đỏ Hoa, Biến Hoa và Giắng Hoa. Bốn cô cùng cha mẹ sinh con đẻ cái lập nên bản làng, lập nên ruộng đất, thành mường Tất Thắng. Để biết ơn tổ tiên sinh thành ra người Mường Tất Thắng, dân bản đã lập đình để thờ.
Đình còn gắn với truyền thuyết về Đức thánh Tản Viên Sơn. Một ngày, bà Đinh Thị Đen mang thai thần đi sang núi Tản đã qua đây, dân bản thấy bà mệt mỏi và đói khát đã dâng bà đĩa cơm nén cùng món cá thiểu và mời bà uống rượu cần. Ăn uống xong, bà đi tiếp về phía động Lăng Xương (xã Trung Nghĩa - Thanh Thuỷ ngày nay) thì sinh ra thần, dân bản đã làm bè nứa để chở mẹ con bà qua sông Đà sang núi Tản.
Thần lớn lên làm con nuôi bà Ma Thị - chúa các động mường, trở thành Đức thánh Tản Viên Sơn (gọi là Sơn Tinh) cai trị và bảo vệ các xứ mường. Thần lấy Mỵ Nương Ngọc Hoa làm vợ và được vua Hùng thứ 18 truyền ngôi cho. Nhân đó, Thục Phán An Dương Vương đang trấn trị một phương nổi lên cướp phá các bản làng. Vua Hùng đã gọi Tản Viên bàn kế đánh Thục Phán. Thần cầm quân đến đâu cũng được dân hưởng ứng. Đến vùng mường Tất Thắng, thần thấy địa thế đẹp, dưới chân là những dòng suối nhỏ bao quanh, bốn phía đều như thành luỹ che chắn bởi núi rừng, khí đất rất vượng.
Tại đây, thần cho quân đào giếng lấy nước nuôi tướng sĩ (giếng cổ này nay cách đình khoảng 100m về phía đông). Dân bản đã mổ trâu, mổ lợn, thổi xôi, làm chè hoa (gạo nếp giang thành bỏng nấu với mật) và rượu thết đãi thần. Dân còn múa hát... cho thần và quân sĩ cùng thưởng thức. Đẹp lòng mình, Tản Viên chọn đây làm nơi xuất quân và đã chiến thắng trở về. Dân bản tổ chức hội hè chào mừng thắng lợi. Ngày đó là ngày 12 tháng 6 âm lịch hàng năm.
Để bảo vệ bền vững và mở mang bờ cõi, Tản Viên đã khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán, còn mình trở về núi Tản. An Dương Vương cảm động đã làm lễ trồng hai cột đá thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (đền Thượng khu di tích đền Hùng ngày nay) bày tỏ lòng quyết tâm bảo vệ giang sơn và cảm tạ Đức thánh Tản Viên Sơn. Trong cuộc chiến tranh Hùng - Thục dai dẳng, theo truyền thuyết tụng truyền, cư dân Mường Tất Thắng và các vùng lân cận đã chạy loạn sang các vùng đất khác lập làng lập bản. Những vùng đất đó, theo các cụ cao tuổi kể lại, chính là các vùng mường thuộc tỉnh Hoà Bình và một phần lan vào tỉnh Thanh Hoá ngày nay.
Trở lại vùng mường Tất Thắng, khi chinh chiến Hùng - Thục, Tản - Thục kết thúc, hàng thế kỷ sau, con cháu hậu duệ những người Mường Tất Thắng trước chạy loạn sang vùng đất mới (Hoà Bình nay) làm ăn lập bản làng, tìm về quê cũ, lập thêm làng bản mới nay là các xóm như xóm Khang, xóm Tế, xóm Xem... Trong đó, xóm Chiềng đất tổ là trung tâm của vùng mường Tất Thắng và thành nơi nhà Lang ở.
Từ những gốc tích trên, dân bản lập đình thờ Đức thánh Tản Viên Sơn, tổ tiên sinh ra mình (Tứ vị thánh mẫu) và người có công mở mang đất đai xóm làng. Hàng năm, lễ hội đình Cả được mở vào ngày 12-6 âm (Tản Viên chiến thắng trở về) và từ 08-15 tháng giêng để cúng tế các vị thần khai lập ra mường Tất Thắng, vui xuân cầu may đầu năm mới. Tầm quan trọng của đình với dân bản và các địa phương lân cận, năm Tự Đức lục niên, cửu nguyệt, nhị thập ái nhật (24-9-1853) Tự Đức đã sắc phong cho dân bản thờ cúng và mở lễ hội hàng năm vào dịp xuân về. Tuy nhiên hiện nay, cùng sự phát triển của địa phương, đình Cả Tất Thắng mở lễ hội chủ yếu vào đầu năm để bà con vui xuân và cứ 3 năm mới làm "chính tiệc".
Sáng mồng 8 tết, dân bản ăn mặc đẹp đi ra bãi Vai Chát dự lễ tế cúng Đức thánh Tản Viên Sơn và tổ tiên sinh  ra lập ra bản mường Tất Thắng. Tương truyền rằng khi xưa chưa lập đình, hàng năm dân ra bãi này để cúng tế và vui chơi. Khi ông Từ đình đọc văn tế xong, người ta đưa cho ông một con gà trống đẹp mã để ông xin các vị thần phù hộ dân bản. Con gà trống này sau đó được cắt tiết và đôi chân gà được đem luộc ngay tại bãi để xem điềm hay điềm gở trong năm mới.
Sau tiến hành xong lễ tục, bà con cùng tổ chức vui chơi, hỏi han chúc nhau sang năm mới làm ăn  thuận lợi, may mắn. Đến nay, người Mường Thanh Sơn vẫn còn lưu giữ bài hát chúc mừng độc đáo sau:
“Mừng mừng, như con gà nó mừng cái moạch
Như con chim khoách nói mừng cây de

Như con khe (chẽo) nó mừng nước mạ

Như con cá nó mừng chỗ khoang sâu

Như con tru nó mừng áng roộng
Như trống cái nó mừng cái dùi sơn son
Như cún như con nó mừng ông mừng mế mừng bố mừng cái...”
Hội này là lễ hội sớm nhất trong lịch sử lễ hội của dân bản, đặc sắc nhất trong lễ hội là tiết mục cồng chiêng. Do đó lễ hội Vai Chát còn gọi là lễ hội cồng chiêng.
Đến ngày 14, đình làng mới chính thức mở lễ hội và kéo dài đến hai ngày sau. Ngay sáng 14, trai tráng trong đội rước kiệu mặc trang phục lễ hội khiêng kiệu đi rước sắc phong từ nhà ông từ ra dâng lên cung giữa đình làng. Cột cờ lễ hội dựng lên cùng những hồi trống chiêng khoan thai kéo dài báo hiệu  lễ hội bắt đầu.
Ông từ đình trở thành chủ tế, đọc văn tế. Mỗi lần chủ tế đọc đến tên thần nào thì chiêng trống lại nổi lên rộn rã, tạo khí thế uy nghiêm thành kính của buổi lễ. Chủ tế đọc văn tế cầu mong tổ tiên phù hộ con cháu làm ăn gặp may mắn, đỗ đạt cao... Đồ cúng tế gồm có thịt lợn, xôi, gà, rượu mộng, mâm ngũ quả. Riêng cung chính thờ Đức thánh Tản Viên Sơn và mẹ và vợ của thần (gọi là tam vị tôn thần) thì có thêm một đĩa cơm nén và một đĩa cá thiểu. Ngoài đồ cúng của đình còn có đồ cúng của bà con dân bản đến cầu may. Sáng ngày 15, việc cúng tế ở đình lại bắt đầu một lần nữa với những thủ tục hôm trước đón tiếp bà con các địa phương đến cầu may và con cháu ở xa về.
Bên cạnh tế lễ, hội xuân cũng tổ chức với các trò chơi như ném còn, bắn nỏ, đu tiên, chàm đuống, chàm thau... Đây là các tiết trò dân tộc của đồng bào còn giữ lại được cho đến ngày nay. Trò chàm thau (đánh trống đồng) và chàm đuống là những trò phức tạp nhất, phải qua luyện tập công phu, nó làm cho người dự liên tưởng đến những hoa văn trên mặt các trống đồng và sự kiện mà cổ sử có ghi vào thời nhà Trần, sứ giả giặc nghe tiếng trống đồng sau một đêm mà sợ bạc cả tóc.
Hội ném còn được tổ chức ngay trước cổng đình. Cây còn làm bằng cây tre để một ít lá, đỉnh gắn một vòng tròn bịt kín giấy đỏ do dân làng trồng lên. Trước khi vào hội còn, ông chủ tế đem năm quả còn lên bàn thờ cung chính làm lễ xin các thần rồi đem còn ra bãi và hội ném còn bắt đầu. Ai ném thủng vòng tròn thì được vào đình để chủ tế làm lễ cầu thánh thần tổ tông ban lộc.
Đêm đến, thanh niên nam nữ bắt đầu hát ví, hát giang đối đáp tỏ tình. Đây là dịp trai gái tìm hiểu và kết đôi với nhau. Nhiều đôi trai gái sau lễ hội thành vợ thành chồng. Để mà vào cuộc vui bao giờ hai bên cũng dò hỏi nhau trước xem bên kia có hứng thú không, nhưng rất ít trường hợp đứng ngoài cuộc vui. Bên nữ bao giờ cũng mạnh dạn lên lời trêu ghẹo trước:
“Kim bang dạo ngãi giang ơi
Chúng thương bạn nhớ tôi ngồi ở đây
Tôi xin than thở nhời này
Có giang hay chăng?
Dù nên anh ơi hay không?
Chẳng nên xin bạn đừng cười
Mời bạn chớ chê
Để tôi kết ngãi đôi quê trốn này...”
Hát giang - ví không chỉ thanh thiếu niên mới ham mà nó được cả các bậc cha mẹ đến các cụ ông cụ bà tham gia. Đây thực sự là một dịp tốt để trẻ nhỏ sớm hoà vào ngày hội hát giang dưới sự chỉ dắt của người già, góp phần làm truyền thống dân tộc thêm sức sống.
Lễ hội đình Cả Tất Thắng phản ánh quá trình lịch sử quần cư lâu đời của người mường trên xứ sở này. Nó gắn bó mật thiết với đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Chính tại xóm Chiềng dân làng đào được khá nhiều đồ gốm, đặc biệt là phát hiện được cái trống đồng Hegher I có niên đại trên 2000 năm tại vườn ông Đinh Công Thắng ngày 3-7-1997, nay được lưu giữ tại phòng truyền thống huyện, nâng con số trống đồng phát hiện được từ trước đến nay trong địa bàn huyện lên hơn 40 cái.
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn liền khôi phục phát triển đời sống văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lễ hội đình Cả Tất Thắng được khôi phục đã trở thành trung tâm lễ hội và hoạt động văn hoá thường xuyên của bà con, làm sống những tập tục truyền thống tốt đẹp, góp phần vào xây dựng làng văn hoá, đời sống văn hoá dân tộc không chỉ ở Tất Thắng mà còn có sức lan toả ra các vùng lân cận.
*Tạp chí Dân tộc và Thời đại số 29 (2001), tr 11 – 12.
 

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011

Ngày 8 tháng 3

Hôm qua, mình nói với vợ mình "Ngày mai anh sẽ vào bếp làm món bún chả đãi mẹ con em!" vậy mà không thực hiện được. Mình vẫn vào bếp nhưng nấu cơm và làm món mực xào, món thịt băm cuốn lá cải hấp cách thuỷ... Dùng xong bữa tối, mình gọi điện về chúc mừng Mẹ mình và mẹ vợ. Mẹ vợ mình ốm nằm trên gác không xuống được. Mẹ mình thì vui lắm vì con dâu gọi từ trưa và lại được mình gọi nữa. Mẹ vẫn khoẻ! Mình quên không gọi điện chúc mừng đến cô em dâu. Thôi thì mai kia gọi cũng được, hỏi thăm sức khoẻ cháu gái xinh xắn của mình và công việc của bố mẹ nó luôn.
Giữa tháng sau, mình cùng thầy Lực sẽ đưa các em sv đi Ninh Bình - Quảng Ninh - Hà Nội - Đền Hùng - thuỷ điện Hoà Bình ... chắc là gian nan lắm đây! Giá cả leo thang thế này lo chỗ ăn ở, xe cộ cho các em làm sao cho vừa sức và chuyến đi an toàn là cả vấn đề. Thầy Lực nóng ruột lo lắng cho chuyến đi nhiều lắm. Thầy cứ băn khoăn làm sao đi cho rẻ nhất và thăm được nhiều địa điểm nhất vì đây là lần đầu cũng là lần duy nhất của đời sinh viên các em k49 được đi trong quá trình học tập tại trường. SV khoa mình thì nghèo quá, các em đều là con em nông dân.... vất vả!

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

Tết buồn

Năm vừa rồi, vợ chồng mình cặm cụi chắt chiu vốn liếng dốc sạch vào làm được ngôi nhà nho nhỏ tưởng mệt đứt hơi. Mừng vui lắm đấy nhưng cũng buồn vì nợ chồng chất mà nhìn quanh nhìn quẩn chẳng thấy có nguồn thu nào để trả cả. Đằng nội đằng ngoại hai đứa đều nghèo cả nên hỗ trợ được chút, chẳng thấm vào đâu. Còn mình thì đang học, vừa công tác vừa học nên cũng mệt mỏi. Tết đến, vợ chồng mình nghe lời mọi người ở lại ăn tết nhà mới đầu tiên cho may mắn. Thôi thì ở lại! Bà ngoại cho 2 cặp bánh chưng vuông. Bà nội gửi xe ô tô lên 6 chiếc bánh chưng dài, một đôi gà (1 trống, 1 mái) và vài hộp thịt chua. Mình thì đi Hà Nội chúc tết thầy cô sát ngày tết thì về. Ở nhà, vợ đi mua cây đào rừng về cắm mà qua tết hết rằm tháng giêng đếm được hơn 20 bông. Có lẽ đây là cái tết buồn nhất của cả 2 vợ chồng! Anh em họ hàng hai đứa không có một ai ở đây. Hai vợ chồng đi chúc tết anh em đồng nghiệp ... một ngày là xong. Đường Sơn La vắng kinh khủng! Trước tết, sinh viên học thì còn tấp nập. Tết đến, sinh viên về, ra đường thỉnh thoảng mới gặp một vài người. ....

Hết năm tết đến nghĩ mà buồn
Thầm gọi cố hương nước mắt tuôn....

Thứ Bảy, 9 tháng 10, 2010

Các bảo vật hoàng cung của các triều đại phong kiến Việt nam

Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung
Sau hơn 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những bảo vật tượng trưng cho quyền lực của triều đại phong kiến như kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bảo kiếm... lần đầu được giới thiệu tới công chúng sáng 9/10.
Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung.
Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, từ năm 1959 đến nay, hàng trăm bảo vật của triều đại Lê, Nguyễn như ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng, ngọc... vẫn còn được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là những bảo vật vô giá của nhân dân Việt Nam, không những chứa đựng giá trị lịch sử phong phú mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân cung đình qua từng thời đại.
Tại lần trưng bày đầu tiên, dù số lượng bảo vật không nhiều, nhưng để đảm bảo an ninh, Bảo tàng Lịch sử đã nhập tủ trưng bày bằng kính 2 lớp dày 12 ly, đóng mở bằng mật khẩu, bục bệ bằng thép 2 lớp. Phòng trưng bày cũng được lắp camera quan sát 24/24h.
Các vị quan khách tham quan tủ trưng bày mũ vàng của vua triều Lê, Nguyễn.
Do lần đầu được chiêm ngưỡng những bảo vật này nên hàng trăm người dân đã chen cứng trong phòng trưng bày và đua nhau ghi lại những hình ảnh đáng nhớ.
Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19) nặng hơn 700 gam.
Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19), nặng 660 gam, được gắn nhiều họa tiết bằng vàng.
Cận cảnh đỉnh mũ.
Phía sau mũ cũng được trang trí tinh xảo.
Ấn, kiếm vàng triều Nguyễn
Từ trái qua phải: Ấn vàng "Sắc mệnh chi bảo" bằng vàng ròng nặng 8,5 kg, đúc năm Minh Mạng 8 (1827); ấn ngọc "Đai Nam Thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ" của triều Nguyễn; ấn "Quốc gia tín bảo" đúc bằng vàng, nặng gần 5 kg vào niên hiệu Gia Long.
Ấn "Sắc mệnh chi bảo" gồm 2 cấp, có hình vuông, trên có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: “Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền - Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo”. (Nghĩa là: Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền - đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827).
Kiếm vàng triều Nguyễn thế kỷ 19 (bên trên) và kiếm vàng "An dân bảo kiếm" năm Khải Định (1916-1925) ở bên dưới.
Các họa tiết chạm khắc tinh xảo trên kiếm.

Chén ngọc, chậu vàng, sách vàng
Bộ chén ngọc khảm vàng triều Nguyễn.
Chậu vàng của triều Nguyễn, năm Duy Tân 5 (1911), trọng lượng 1,4 kg.
Đài vàng cẩn ngọc triều Nguyễn thế kỷ 19.
Cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1 kg.
Tiến Dũng
Nguồn sưu tầm: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/10/3BA21673/

Thứ Tư, 23 tháng 6, 2010

Hình ảnh Việt Nam trước sự quan sát của cộng đồng Quốc tế [1]

Việt Nam cố cưỡng lại sự bành trướng của Trung Quốc (Anh Vũ)
Hàng Trung Quốc qua cửa khẩu Việt Nam. Ảnh năm 2009.
Hàng Trung Quốc qua cửa khẩu Việt Nam. Ảnh năm 2009.
Reuters

Báo Le Monde hôm nay có bài viết đáng chú ý đề cập đến mối quan hệ giữa hai người láng giềng Trung Quốc - Việt Nam một mối quan hệ láng giềng không hề dễ chịu. Đặc phái viên của Le Monde mở đầu bài báo bằng quan sát : Để đánh dấu 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Hà nội lấy năm 2010 là « năm hữu nghị Việt – Trung ». Hàng ngày báo chí vẫn cứ ca ngợi chất lượng quan hệ giữa hai nước. Còn thực ra người dân Việt Nam thì vẫn cảnh giác.
Theo Le Monde, nghìn năm bị các vương triều Trung Hoa đô hộ vẫn để lại những dấu vết không thể xóa được. Trung Quốc ngày nay vẫn bị đa số người dân Việt Nam nhìn nhận là nước lớn có mưu đồ bành trướng cần phải dè chừng. Bản thân chính quyền cũng bị phân hóa trên vấn đề này. Một số người còn yêu cầu đưa vấn đề quan hệ với Trung Quốc vào chương trình nghị sự của đại hội đảng 11 dự tính diễn ra trong năm tới.
Riêng về Việt Nam, Le Monde cho biết từ năm 2000 Việt Nam bước vào giai đoạn thứ hai của công cuộc đổi mới. Trong số các nước trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nước chống chọi tốt hơn cả với cuộc khủng hoảng vừa qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2009 vẫn đạt 5,3%.
Theo nhận xét của ông Martin Rama, trưởng bộ phận kinh tế của Ngân hàng Thế giới thì Trung Quốc không phải là mô hình để tham khảo mà Singapore mới là nơi để Hà Nội nhìn vì đảo quốc này có mô hình « dân chủ có kiểm soát » và « hiệu quả kinh tế ». Còn Trung Quốc, theo như tóm tắt của ông Alain Cany chủ tịch văn phòng châu Âu tại Hà Nội thì « vừa là người anh, kẻ thù chính trị duy nhất nhưng đồng thời cũng là đối tác kinh tế chính ».
Phân tích quan hệ kinh tế Trung-Việt, tác giả bài báo nhận thấy, cán cân thương mại của Việt Nam luôn luôn bị thâm hụt trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc. Mức chênh lệch của năm 2009 là 11 tỷ đô la tức là chiếm tới 10% tổng thu nhập nội địa của Việt Nam. Theo bài báo thì hai nước đang duy trì một mối quan hệ làm ăn đặc trưng theo kiều giữa nước giàu và nuwosc nghèo. Bắc Kinh xuất khẩu sang nước láng giềng của mình các lọai máy công cụ, xe hơi, xe may hay phân bón. Còn Việt Nam thì chủ yếu lại đưa sang Trung Quốc các nguyên vật liệu thô như dầu mỏ, than đá hay cao su.
Tuy nhiên Le Monde nhận thấy Việt Nam cũng có thế mạnh của mình đó là hàng năm nước này thu hút khoảng 11 tỷ đô la vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Việt Nam đang tìm cách thu hút thêm những nhà đầu tư đã cắm chân ở Trung Quốc về mình bằng lợi thế nhân công rẻ hơn.
Đối với Trung Quốc việc nhảy vào Việt Nam là một vấn đề tế nhị. Tờ báo đơn cử trường hợp « vụ bauxite » đã gây lên một làn sóng phản đối dữ dội của các tầng lớp các nhà trí thức, khoa học và giới quân đội. Tất cả đều lên án việc tiến hành dự án bauxite ở Tây Nguyên có sự tham dự của nhà thầu Trung Quốc là làm tổn hại đến môi trường và an ninh quốc gia. Theo tác giả thì bây giờ nỗi bất bình đã tạm lắng nhưng có thể sẽ lại bùng lên khi tập đoàn Chinalco của Trung Quốc tham gia dự án.
Theo nhận xét của Le Monde thì để tránh không bị lệ thuộc vào Bắc Kinh, Việt Nam đang mở ra nhiều hướng tấn công với ba đầu tầu của kinh tế Việt Nam đó là công ty viễn thông Viettel, Ngân hàng Đầu tư Phá triển BIDV và hãng hàng không Vietnam Airlines. Ngoài ra, từ hơn một năm nay, Việt Nam đã bắt đầu chinh phục sang các nước lân cận như Miến Điện, Lào, và Cam Bốt vốn là những thị trường mà Trung Quốc cũng rất thèm muốn. Một đại diện thưong mại của Pháp tại Việt Nam cho biết « trong vòng một năm, Viettel đã giành được 50% thị phần ở Cam Bốt ».
Về mặt quân sự Việt Nam chọn cách xích lại gần với người đồng minh cũ là Nga. Cuối năm ngoái Hà Nội đã ký với Matxcơva một hợp đồng mua tàu ngầm trị giá 2 tỷ đô la. Bên cạnh đó Hà nội cũng nhìn thấy ở châu Phi những lợi ích không thể bỏ qua. Theo tác giả bài báo thì có nhiều dấu hiệu đang cho thấy Việt Nam đang cố gắng cản trở tham vọng của Bắc Kinh, trên lĩnh vực chiến lược cũng như kinh tế.
« Người công giáo tại Hà Nội, giữa sự đối kháng và ngọai giao »
Liên quan đến Việt Nam, tờ báo công giáo La Croix hôm nay có bài : « Người công giáo tại Hà Nội, giữa sự đối kháng và ngọai giao », nhân trong tuần này sẽ diễn ra cuộc gặp làm việc giữa đại diện của Việt Nam và Tòa thánh Vatican trong bối cảnh Tổng giám mục mới của Hà Nội vừa được bổ nhiệm.
Để nói lên tâm trạng của các giáo dân Hà Nội lúc này, mở đầu bài báo trích dẫn lời than vãn của một giáo dân rằng : « Từ khi Hà Nội có tổng giám mục mới là cha Nguyễn Văn Nhơn, nhiều thanh niên bỏ đi lễ nhà thờ ! ». Ông khẳng định thêm « rõ ràng là chính quyền đã thành công trong việc phân hóa Công giáo Việt Nam, không chỉ giữa tín đồ mà còn cả giữa các linh mục với giám mục ».
La Coix nhận thấy, so với thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh phía Nam, người công giáo ở miền bắcViệt nam vẫn thường có thái độ phản kháng chính quyền mạnh hơn.
Tại Hà Nội, trong hai năm qua, có vẻ như mối quan hệ giữa nhà thờ và chính quyền đã đi đến rạn vỡ. Bài báo nhận thấy các cuộc tranh chấp tài sản đất đai của nhà thờ bị chính quyền tịch thu đã trở thành một chất xúc tác, đôi khi còn nguyên cớ của những căng thẳng giữa Công giáo và chính quyền. Để dẫn chứng, tác giả bài báo đã nhắc lại hai vụ điển hình các giáo dân Hà Nội đấu tranh đòi lại đất tòa Khâm sứ và vụ tranh chấp đất đai tại giáo xứ Thái Hà ở cách đó không xa. Trong cả hai vụ trên tổng giám mục cũ của Hà Nội là Đức cha Ngô Quang Kiệt đã dám đứng lên thẳng thắn đối mặt với chính quyền.
Tác giả trích dẫn lại lời của một con chiên cho rằng : « Lãnh đạo của đất nước này cứ nghĩ rằng nhà thờ công giáo là tay sai cho các thế lực nước ngoài. Nhưng không đúng, lý dó chính đó là chính quyền cộng sản sợ nhà thờ là vì họ có tổ chức tốt».
Dù lý do thế nào thì, cuộc khủng hoảng giữa giáo hội Công giáo và chính quyền đã lên đến đỉnh điểm, cần phải có một lối thoát. Đầu tháng 5 Vatican bổ nhiệm linh mục Nguyễn Văn Nhơn, từ giáo phận Đà Lạt về làm Tổng giám mục phó của Hà Nội, và đến ngày 13 tháng 5 cha Nguyễn Văn Nhơn chính thức trở thành tổng giám mục Hà Nội.
Liệu việc thay tổng giám mục này có dàn xếp được sự căng thẳng giữa công giáo với chính quyền hay không ? Cha Nguyễn Văn Khải của giáo xứ Thái Hà cho rằng là không, vì « nếu người ta thỏa hiệp với cộng sản để nhận một mẩu bánh thì họ sẽ càng áp bức chúng tôi hơn ». Cha Khải còn qủa quyết rằng « Tòa thánh La Mã bổ nhiệm tổng giám mục mới là do sức ép của chính phủ ».
Người công giáo không hiểu có phải Roma đang muốn đối thọai với chính phủ Việt Nam muốn giải quyết căng thẳng và tình hình đang trở nên rối tung hay không.
Để kết luận bài báo viết : Lúc này ở Hà Nội các giáo dân công giáo chỉ còn kỳ vọng vào thái độ của vị chủ chăn mới của họ là tân tổng giám mục.
 Khi Trung Quốc sạt nghiệp….
Một bài viết khác trên báo Le Monde có hàng tựa chắc hẳn sẽ thu hút độc giả ngay đó là: Khi Trung Quốc sạt nghiệp….
Theo Le Monde thì mức tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc đang tiềm ẩn một thực tế có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào đó là việc chính quyền địa phương vay nợ để đầu tư vô độ vào những dự án khổng lồ.
Bài báo đưa độc giả về với khu vực Jiangqiao, một thị trấn cách thành phố Thượng Hải hơn chục km. Tại đây người ta đang chuẩn bị xây dựng một khu với tên gọi « Thị trấn thương mại tây Thượng Hải ». Một dự án đô thị hóa với những công trình tổ hợp khổng lồ của chính quyền địa phương. Nhưng tất cả đều phải vay nợ của nhà nước.
Le Monde trích dẫn lại báo South China Moning Post tại Hồng Kông cho hay ở Trung Quốc có chuyện là các chính quyền địa phương đi vay nợ để bảo đảm duy trì mức tăng trưởng của vùng mình ở hai con số. Hệ thống Trung Quốc vận hành theo cơ chế thưởng cho tăng trưởng vì thế mà các địa phương cạnh tranh nhau để hệ thống cơ sở hạ tầng thật tốt nhằm thu hút các nhà đầu tư. Một hình thức bán đất, theo một chuyên gia kinh tế tại Thượng Hải thì có những địa phưong 50% ngân sách bắt nguồn từ việc bán đất. Và người ta làm mọi cách để đẩy giá đất lên cao. Để có cơ sở hạ tần thì phải đi vay và nhà nước đã phải gia tay cứu vớt một số địa phương nợ nần chồng chất không có khả năng thanh tóan. Theo các nhà phân tích thì dù Trung Quốc vẫn có đủ nguồn dự trữ và đặc biệt họ tự quy định luật chơi của mình nhưng dù gì đây vẫn mối nguy hiểm tiềm ẩn cho những con số tăng trưởng nhanh của Trung Quốc.
(lược bỏ......)
-----------------------------
[1]. Dương Hà Hiếu đặt lại tiêu đề cho phù hợp, nguồn: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Hệ thống các đảo trong hai quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và Hoàng Sa (Paracel Islands) là của Việt Nam

Hiện nay, khu vực biển Đông trong đó có hai quần đảo của Việt Nam là Hoàng Sa (tên quốc tế là: Paracel Islands) và Trường Sa (tên quốc tế là: Spratly Islands) ngày càng trở nên nóng bỏng. Đặc biệt, sự xâm lấn ráo riết, nham hiểm của Trung Quốc và Đài Loan đối với hai quần đảo này của Việt Nam đã làm cho tình hình ngày càng trở nên phức tạp. Đứng trước bối cảnh đó, Việt Nam cần phải nhanh chóng chuẩn bị mọi mặt để đối phó với những âm mưu thâm độc của kẻ thù, vừa phải nâng cao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, không phận cho nhân dân. Việt Nam cần phải chủ động và mau chóng chuẩn bị mọi cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo cá nhân tôi, Việt Nam cần phải thực hiện gấp những công việc trước mắt sau:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho nhân dân, đặc biệt là đoàn viên thanh niên về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải và không phận, trong đó cần phải nêu bật những vấn đề liên quan về an ninh quốc phòng ở khu vực biển Đông;

2.  Việt Nam cần phải huy động lực lượng đông đảo các học giả trong và ngoài nước đẩy mạnh công tác sưu tầm nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam và các nước liên quan về vấn đề biển Đông, trong đó đặc biệt là vấn đề chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa;

3. Việt Nam phải nhanh chóng đưa vấn đề chủ quyền biển đảo vào các chương trình đào tạo các cấp, viết sách giáo khoa có những nội dung về chủ quyền biển đảo...;

4. Thúc đẩy hợp tác với nước ngoài nhằm khai thác hiệu quả tiềm tăng kinh tế biển đảo, bình tĩnh và tỉnh táo giải quyết các vấn đề tranh cãi về chủ quyền biển Đông trong đó có quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa;

5. Đẩy mạnh đầu tư cho nghề biển, xây dựng hệ thống tàu đánh bắt cá xa bờ trang bị hiện đại nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế biển, góp phần vào công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ lãnh hải và bảo vệ an toàn cho các đội tàu đánh bắt xa bờ;

6. Xây dựng lộ trình hiện đại hoá lực lượng hải quân nhằm phục vụ công tác bảo vệ toàn vẹn an ninh lãnh hải lãnh thổ trong tương lai gần....

Vấn đề chủ quyền lãnh thổ luôn là vấn đề phức tạp khó khăn của lịch sử không thể nóng vội giải quyết trong một sớm một chiều. Chính phủ và mọi tầng lớp Việt Nam cần phải thể hiện rõ bản lĩnh trước sự xâm phạm ngày càng trắng trợ của kẻ thù để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia - dân tộc mình. Để làm được điều này, người Việt Nam không chỉ cần có tinh thần yêu nước mà còn cần có một cơ sở nền tảng vật chất hùng mạnh....
Dương Hà Hiếu

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2010

Đảng trong trái tim tôi (Vietnam Communist Party in my mind)

Ngày 3/2/2010 là ngày kỉ niệm Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 80 tuổi. Đây là sự kiện lớn và quan trọng đầu tiên của đất nước trong năm 2010. Nhân dịp này, các đảng viên thuộc Đảng bộ Trường ĐHKHXH&NV đã chia sẻ những kỉ niệm của bản thân về những ngày đầu được đứng trong hàng ngũ của Đảng cũng như đóng góp ý kiến cho công tác xây dựng Đảng.

* PGS. Lê Mậu Hãn: Chặng đường 80 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định những giá trị đúng đắn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Tôi còn nhớ vào dịp kỉ niệm 30 năm thành lập Đảng, Bác Hồ đã nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Cụ nói cô đọng nhưng rất sâu sắc. Và những người nghiên cứu về sử cho đến tận bây giờ, càng ngày càng nhận thấy giá trị đúc kết, giá trị tổng kết hết sức đúng đắn của câu nói đó. Có thể thấy rằng sự ra đời, trưởng thành, lớn mạnh cùng những thành công mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đạt được trong suốt con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước gắn liền với vai trò to lớn của nhà cách mạng tiên phong của dân tộc là Bác Hồ. Những tư tưởng của Bác đã đi cùng Đảng ta trong suốt những ngày đầu thành lập Đảng và đến nay vẫn tiếp tục song hành cùng Đảng, cùng dân tộc trong chặng đường phát triển mới và vẫn còn nguyên giá trị.
PGS. Lê Mậu Hãn - đảng viên 50 tuổi Đảng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. (Ảnh: NA)PGS. Lê Mậu Hãn - đảng viên 50 tuổi Đảng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. (Ảnh: NA)
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành, người thanh niên cấp tiến đã dấn thân ra đi để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người thanh niên ấy ra đi chỉ với hành trang là người con của một dân tộc Việt Nam, một quốc gia dân tộc hình thành sớm trong lịch sử, một dân tộc sớm có ý thức cố kết đùm bọc nhau, có ý thức sâu sắc về cương vực mình ở, về chủ quyền đất nước và chiến đấu với ý chí để bảo vệ cuộc sống của mình. Đó cũng chính là sức mạnh, là động lực, là mục tiêu của cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Bác Hồ đã nhận định: thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của ý chí, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc ta. Những sức mạnh ấy, giá trị tinh thần to lớn ấy của dân tộc đã được Hồ Chí Minh nâng lên một tầm cao mới trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu giá trị văn minh phương Đông và phương Tây, qua nghiên cứu đường lối, bài học kinh nghiệm của các cuộc cách mạng lớn trên thế giới từ thế kỉ 17. Cuối cùng, Nguyễn Tất Thành đã vô cùng vui mừng khi bắt gặp tư tưởng của chủ nghĩa Mác, của cách mạng tháng Mười. Nhiều giá trị của chủ nghĩa Mác tuy chưa thành hiện thực nhưng phải thấy rằng mục tiêu của chủ nghĩa Mác là xây dựng xã hội không có giai cấp áp bức, một xã hội mà quyền tự do của con người được bảo đảm, đó là mục tiêu cao đẹp. Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác và học tập Cách mạng tháng Mười, Hồ Chí Minh đã không giáo điều mà vô cùng sáng tạo để có thể vận dụng khéo léo vào tình hình thực tiến của cách mạng Việt Nam. Có thể nói rằng các nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh có tính toàn diện, mang tầm vóc của một học thuyết, đó là học thuyết về cách mạng, về giải phóng để đi đến độc lập tự do.

* PGS. Nguyễn Văn Hàm: Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một niềm vinh dự và tự hào

Khi tôi trở thành sinh viên của Trường Đại học Tổng hợp, tôi và nhiều bạn bè đã có ý thức phấn đấu để trở thành Đảng viên. Đó cũng chính là ý thức phấn đấu của cả một thế hệ trẻ lúc bấy giờ. Nguyện vọng đó đã được Chi bộ hết sức ủng hộ. Sau những cố gắng, nỗ lực của bản thân, khi là sinh viên năm thứ 4 của Khoa Lịch sử, tôi đã được chi bộ xét kết nạp vào Đảng. Tôi vẫn còn nhớ ngày đó là ngày 05/6/1967.
PGS. Nguyễn Văn Hàm - đảng viên chi bộ Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng. (Ảnh: NA)PGS. Nguyễn Văn Hàm - đảng viên chi bộ Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng. (Ảnh: NA)
Ngày được kết nạp Đảng của tôi gắn với một kỉ niệm rất sâu sắc. Lúc đó tôi và 2 đồng chí nữa là sinh viên năm thứ 4 được biệt phái sang Cục Lưu trữ phủ Thủ tướng, sơ tán tại ATK Tuyên Quang để nghiên cứu, viết khoá luận tốt nghiệp. Từ ATK về Đại Từ, Thái Nguyên là nơi sơ tán của trường lúc ấy, chúng tôi đã phải đi xe đạp vượt qua đèo Khế với độ dài cả chục cây số. Khi lên đèo thì vất vả nhưng an toàn, khi xuống không mất nhiều sức nhưng rất nguy hiểm. Hai người chúng tôi đã có sáng kiến là kiếm một cành cây lớn để buộc vào sau xe đạp để giúp giảm tốc độ, rồi nhả phanh từ từ mà xuống đèo. Đến khi xuống đèo thì không còn nhận ra mình nữa vì khắp người toàn bụi bám. Lúc chúng tôi về đến trường thì mọi người mừng lắm. Ngay sáng hôm sau, lễ kết nạp Đảng cho tôi đã được tổ chức trong một lớp học nửa chìm nửa nổi trong lòng đất để tránh bom của địch.
Lễ kết nạp diễn ra trang trọng, thiêng liêng nhưng cũng hết sức giản dị. Chúng tôi phân công nhau treo ảnh Các Mác, Lê-nin, ảnh Bác Hồ, treo cờ Đảng, tự tay cắt dòng chữ “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm” bằng giấy vở học sinh dán lên tường. Lễ kết nạp hôm ấy cùng với kỉ niệm phải đổ dốc đèo Khế rất vất cả về trường cho kịp buổi lễ đã trở thành một ấn tượng không bao giờ quên đối với tôi. Và còn may mắn hơn nữa khi tôi được giữ lại và tr thành một trong những người đầu tiên xây dựng ngành Lưu trữ học tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tiếp tục gắn bó cuộc đời mình với nơi đã tôi đã trưởng thành.
Trong cả cuộc đời mình, được đứng trong hàng ngũ của Đảng và giờ đã có trên 40 năm tuổi Đảng thực sự là một niềm vinh dự và tự hào của tôi.
Sau khi kết nạp Đảng, nguyện vọng của tôi là làm sao phát huy được tính tiền phong gương mẫu của người Đảng viên. Làm việc hết mình vì tập thể, hoàn thành bất kì công việc nào được giao, chân thành góp ý, giúp đỡ đồng nghiệp..., đó là tâm niệm của tôi với tư cách là một đảng viên. Tôi nghĩ rằng Đảng có tạo được lòng tin trong dân, có tạo được sức mạnh của mình thì phải dựa vào những người đảng viên chân chính. Do đó, công tác phát triển Đảng trong cán bộ trẻ và sinh viên phải là một trong những trọng tâm công tác của Đảng bộ trường ta, qua đó không chỉ động viên, giúp đỡ các bạn trẻ rèn luyện mình mà còn góp phần tăng cường sức mạnh của Đảng. Đối với các thầy cô giáo, các đảng viên trong trường ta, xuất phát từ đặc thù của trường, tôi cho rằng cách giáo dục truyền thống tốt nhất cho sinh viên là phải thông qua các bài giảng đậm chất trí tuệ và nhân văn, thông qua chính tâm gương đạo đức của các thầy cô giáo.

* PGS.TS Lâm Bá Nam: Phải nâng cao tầm trí tuệ của Đảng

Năm nay là năm có nhiều sự kiện lớn của đất nước, trong đó một trong những sự kiện lớn đầu tiên là kỉ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam - sự kiện mở đầu một mùa xuân mới của đất nước, trong của một thập kỉ mới của thế kỉ 21. Chặng đường 80 năm của một đảng chưa hẳn là quá dài, nhưng là một điều đặc biệt đối với một một đảng đã trải qua 80 năm phát triển gắn liền với tiến trình lịch sử của cả một dân tộc và của cách mạng Việt Nam kéo dài từ thế kỉ 20 sang thế kỉ 21. Đây là đảng cầm quyền, là Đảng Cộng sản, tổ chức đóng vai trò tiên quyết, quan trọng nhất xuyên suốt tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc.
PGS.TS Lâm Bá Nam - đảng viên chi bộ Khoa Lịch sử, nguyên Phó BT Đảng uỷ nhà trường. (Ảnh: NA)PGS.TS Lâm Bá Nam - đảng viên chi bộ Khoa Lịch sử, nguyên Phó BT Đảng uỷ nhà trường. (Ảnh: NA)
Cách đây 50 năm, vào dịp kỉ niệm 30 năm Đảng Lao động Việt Nam, Bác Hồ đã nói: “Đảng ta thật vĩ đại!”. Vào năm 1945, với 15 năm tuổi và chỉ với trên 5000 đảng viên, Đảng phát động quần chúng làm nên thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng 8. Nhiều thế hệ các chiến sĩ cách mạng, đảng viên của Đảng đã đổ máu và hi sinh vì sự nghiệp to lớn này. Từ đó cho đến nay, trải qua 80 năm, Đảng ta đã lớn mạnh không ngừng, lực lượng cũng ngày càng hùng hậu. Ngày càng có nhiều cán bộ trẻ, nhiều nhà khoa học, trí thức phấn đấu và gia nhập hàng ngũ của Đảng.
Đối với cá nhân tôi, một người đã có trên 30 năm tuổi Đảng, thì toàn bộ tuổi thanh xuân của tôi là là đứng trong hàng ngũ của Đảng. Lúc bấy giờ, vào Đảng là một sự kiện quan trọng và thiêng liêng đối với thanh niên bấy giờ. Chúng tôi vào Đảng chỉ với một mục đích là được đứng trong hàng ngũ của những người ưu tú, được chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của dân tộc. Khi tôi vào Đảng vào năm 1978, bố tôi là chính uỷ một trung đoàn, đã rất vui mừng khi biết tôi khi đó là một người lính đã phấn đấu để được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Ông viết thư chúc mừng tôi. Trở thành Đảng viên là một điều thiêng liêng, nhưng tôi luôn tâm niệm rằng giữ danh hiệu ấy, sống xứng đáng với danh hiệu ấy như thế nào trong suốt cuộc đời mình còn quan trọng hơn rất nhiều. Cho nên đối với tôi, dù đã là đảng viên hơn 30 năm nhưng tôi luôn nghĩ khoảng thời gian đó mới chỉ là một phần trong cả sự nghiệp, cả cuộc đời mình. Còn một phần quan trọng nữa, tính từ thời điểm hiện tại cho đến khi rời bỏ cõi đời này, mình phải luôn phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu cao quý - danh hiệu là một người đảng viên.
Tôi nghĩ, trong chặng đường phát triển sắp tới của mình, có hai vấn đề lớn mà Đảng cần quan tâm: Một là phải làm cho Đảng ta thật trong sạch. Đảng mà không trong sạch thì sẽ làm mất niềm tin đối với dân và làm mất đi sức mạnh của mình.
Hai là Đảng phải nâng cao tầm trí tuệ của mình. Trí tuệ của Đảng có tầm quyết định đường hướng phát triển của cả một dân tộc với tư cách là đảng cầm quyền. Bài học thực tiễn 80 năm của đảng ta cho thấy: mối quan hệ máu thịt của Đảng và dân là nhân tố quan trọng nhất làm nên thắng lợi của cách mạng. Nếu Đảng làm dân tin thì tư tưởng của Đảng mới đi vào đời sống người dân. Đảng thuộc về dân tộc, thuộc về nhân dân nhưng không đứng trên dân tộc, đứng trên nhân dân. Nếu dân không coi tổ chức Đảng là của mình thì sức mạnh của Đảng không còn. Và trí tuệ của Đảng chỉ được nhân lên khi Đảng biết sử dụng trí tuệ của cả dân tộc để tạo thành trí tuệ lớn.

* PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế: Chúng tôi đã đến với Đảng bằng một tình yêu trong sáng

Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 80 tuổi thì tôi có vinh dự được là đảng viên trong 30 năm. Nói một cách khác, danh hiệu Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã là một phần quan trọng trong cuộc sống của tôi và có lẽ là phần tinh hoa nhất của cả một thế hệ chúng tôi. Và nói đến điều đó, chúng tôi có thể khóc được, có thể vui và có thể kiêu hãnh được. Những năm tháng là đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và sau đó là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là những năm tháng tuổi trẻ đẹp nhất của tôi.
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - đảng viên chi bộ Khoa Lịch sử. (Ảnh: NA)PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế - đảng viên chi bộ Khoa Lịch sử. (Ảnh: NA)
Còn nhớ ngày ấy ở Đại học Tổng hợp Hà Nội, với thế hệ chúng tôi như là Nguyễn Hải Kế, Lê Chí Quế, Nguyễn Quang Ngọc, Lê Kim Bôi, Hoàng Văn Nhung,... được trở thành đảng viên là niềm tự hào, sự xúc động sâu sắc và lòng tự tin về sự trưởng thành của bản thân gắn liền với chế độ. Cái kiêu hãnh đó khó tả lắm, bởi vậy khi nhắc về nó ta như trở về với một điều rất linh thiêng. Đối với thế hệ sinh ra, lớn lên, được thừa hưởng chế độ từ những năm 1954 trở lại thì khát vọng phấn đấu để trở thành đảng viên Đảng Cộng sản là một điều thiêng liêng và trong sáng cực kì.
Tôi tự hào rằng những năm tháng ấy trao truyền cho thế hệ chúng tôi một sức mạnh, mà thời đại ngày nay gọi là sức mạnh “mềm”. Trong điều kiện bình thường, sức mạnh ấy nó có thể ẩn tàng như không có nhưng mỗi khi có trở lực phía trước, sức mạnh mềm đó lại góp phần nhân lên và thúc đẩy chúng tôi vượt qua những khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi. Tôi tự hào là thế hệ chúng tôi đã thừa kế xứng đáng lớp những đảng viên cộng sản chân chính của thế hệ trước. Không viển vông, không lãng mạn, cũng không duy tâm vì tôi biết là trong phẩm chất nghìn năm của dân tộc Việt Nam, dân tộc đã “đẻ” ra Đảng Cộng sản Việt Nam, tinh hoa của dân tộc đã “đẻ” ra những người đảng viên chân chính, trở thành Bộ tham mưu với tầm nhìn xuyên qua những trở ngại nhất thời của dân tộc trên bước đường sinh tồn, trên chặng đường dài khó khăn của một quốc gia, một dân tộc vốn gặp rất nhiều phong ba bão táp trong hành trình phát triển. Chúng tôi đã sống và bước đi với niềm tin tưởng ấy mà không kèm theo chút tự kiêu hay thoả mãn nào. Dù lúc bấy giờ, chúng tôi có thể chưa hiểu mấy về chặng đường đấu tranh dài gay go của thời kì quá độ, từ một xã hội tiểu nông, nghèo đói, lạc hậu để đi đến một xã hội văn minh, hiện đại, bình đẳng, tự do, bác ái.
Cội nguồn xuất phát điểm, động lực cho mọi phấn đấu chỉ là một niềm tin trong sáng cực kì. Rõ ràng phải cảm ơn điều đó chứ!
Chúng tôi còn may mắn ở lại miền Bắc, nhưng nhiều lớp bạn bè thế hệ sau năm 54, đi vào chiến trường, dấn thân vào cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, đã vĩnh viễn nằm lại. Những thế hệ ấy trong sáng lắm. Đi tới một xã hội công bằng, bình đẳng, văn minh là cả một con đường dài vạn dặm, lắm chông gai. Đây đó những lúc này lúc khác trong cuộc đời, có những lúc buồn, thất vọng thì chúng tôi lại biết cách vượt qua bằng niềm tin ban đầu mãnh liệt ấy. Đó là vài tâm sự và suy nghĩ của tôi nhân dịp Đảng tròn 80 tuổi và tôi cũng tròn 30 năm tuổi Đảng.
Với tư cách là một đảng viên, là một công dân và là một nhà khoa học thì khát vọng lớn nhất của thế hệ chúng tôi là không ngừng tìm tòi, khám phá để tìm ra chân lí khách quan của khoa học, của đời sống. Với tư cách là đảng viên của một đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo thì chúng ta phải hiểu rằng: bằng khoa học và với trách nhiệm trước đời sống xã hội thì các nhà khoa học xã hội và nhân văn phải luôn suy tư, khám phá để phát hiện ra những vấn đề lớn của khoa học xã hội nhân văn Việt Nam, nhất là trong thời kì đang công nghiệp hoá, hiện đại hoá này.
Tổng kết lịch sử của khoa học xã hội, đời sống văn hoá xã hội của đất nước là cực kì quan trọng và là tiền đề để tìm ra những hướng vận động sắp tới. Các nhà khoa học xã hội Việt Nam, trong đó có cá nhân tôi phải tìm thấy ở đấy những sức mạnh vừa có tính nhân loại, vừa có tính đặc thù của Việt Nam được kết tinh và lắng lại trong hàng nghìn năm qua, để trả lời câu hỏi: ngày hôm nay, trong quá trình hội nhập thì khoa học xã hội Việt Nam, xã hội Việt Nam, con người Việt Nam có lợi thế gì trong quá trình hội nhập? Hội nhập không phải để giống người khác, mà để ngang bằng với nhân loại nhưng vẫn duy trì, thừa kế được những cái gì là của con người Việt Nam, có thể gợi mở được sức mạnh của bản thân, cái tinh tuý của người Việt Nam để góp phần vào cái phong phú chung của nhân loại. Đấy là trách nhiệm của các nhà khoa học xã hội, trong đó có vai trò của người đảng viên vì đảng viên và tổ chức đảng thực chất là bộ tham mưu chiến đấu được xã hội thừa nhận trong 80 năm qua. Sự thừa nhận đó được chứng minh bằng quá trình đấu tranh thắng lợi để giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội công bằng, văn minh và hội nhập với thế giới. Nhiệm vụ đó gian khổ cực kì, thách thức cực kì nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Chính vì thế mà con đường phấn đấu rèn luyện, nói theo đạo là “tu”, là một quá trình rèn luyện gian khổ không chỉ của cá nhân mà của cả tổ chức Đảng, với sự ủng hộ và kiểm định của toàn bộ xã hội.
Thanh Hà (thực hiện)
Nguồn sưu tầm từ: http://www.vnu.edu.vn